Logo & Name
Địa chỉ: 54 Nguyễn Tri Phương - Thành phố Huế
Điện thoại: +84 54 3846159 - Email: thcs.ntp@thuathienhue.edu.vn
Banner Banner Banner Banner Banner Banner Banner Banner Banner Banner Banner Banner
  • Khoa học & công nghệ
  • Nghiên cứu của giáo viên

SỰ PHỐI HỢP GIỮA GVBM VÀ GVCN TRONG VIỆC NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG HỌC TẬP CỦA HỌC SINH - GV: Trần Thị Thắng (24/10/2011)

 SỰ PHỐI HỢP GIỮA GVBM VÀ GVCN

TRONG VIỆC NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG HỌC TẬP

CỦA HỌC SINH

        1/ Đặt vấn đề:

           1.1 Lí do chọn đề tài:

          Hiện nay, xã hội đang xuất hiện và nảy sinh nhiều tệ nạn như: ma túy, cờ bạc, rượu chè,…Những tệ nạn đó đã ảnh hưởng lớn đến nền tảng đạo đức và thuần phong mĩ tục của dân tộc.Trong khi đó học sinh của chúng ta là đối tượng rất dễ bắt chước, rất dễ bị lôi cuốn vào những trò mới lạ.Với lứa tuổi học sinh cấp hai, chơi GAME đã ảnh hưởng rất nhiều đến chất lượng học tập của nhiều em. Đứng trước thực tế đó, nhiệm vụ của một người GVCN, GVBM lại càng nặng nề hơn bao giờ hết. Làm sao thu hút được các em gắn bó với trường với lớp, gắn bó với bạn bè, cùng nhau vui chơi học tập, rèn luyện để tránh xa cái ác, cái xấu đang ở rất gần các em. Nếu như không được sự quan tâm giúp đỡ kịp thời, làm sao giúp các em trở về đúng nghĩa là một học sinh bình thường, trở về với sự hồn nhiên, vô tư của thời học trò? Muốn vậy chúng ta cần phải nhanh chóng đưa các em vào nề nếp học tập.Phải làm thế nào để các em thấy rằng “ Mỗi ngày đến trường là một ngày vui”

            a/Cơ sở lý luận:

         -Thực hiện chủ đề năm học của Bộ Giáo dục và Đào tạo:

 Năm học tiếp tục đổi mới quản lý và nâng cao chất lượng giáo dục”.

         -Thực hiện chỉ thị 3399/2009/CT- Bộ GD & ĐT ngày 16 tháng 8 năm 2010 của Bộ Trưởng Bộ GD và ĐT về nhiệm vụ tâm của toàn ngành học, bậc học trong năm học 2010-2011.

         -Theo thông tư 12/2009 của Bộ GD và ĐT quy định về tiêu chuẩn đánh giá chất lượng giáo dục của trường THCS.

         - Thực hiện chỉ thị số 06-CT/TW ngày 7/11/2006 của Bộ chính trị về cuộc vận động “ Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”

         - Thực hiện chỉ thị số 33/2006/CT-TTg ngày 8/9/2006 của Thủ tướng chính phủ về

“ chống tiêu cực trong thi cử và khắc phục bệnh thành tích trong giáo dục”

        b/ Cơ sở thực tiễn:

         Bác Hồ đã nói : “ Vì lợi ích mười năm trồng cây, vì lợi ích trăm năm trồng người” .Trong gia đình, con cái là hình ảnh của cha mẹ thì ở trường tập thể lớp là hình ảnh của GVCN. Kết quả học tập và rèn luyện của một lớp có tốt hay không đều phụ thuộc rất nhiều vào sự kết hợp của GVCN và GVBM.

          Chúng ta đã biết rằng, đến trường thì đối với các em, giáo viên là niềm tin, chỗ dựa tinh thần cho học sinh. Một khi bằng tình cảm chân thực, thương yêu và hết lòng giúp đỡ, gần gũi các em thì chẳng phải mất nhiều thời gian các em sẽ cộng tác và yêu quý giáo viên, từ đó các em sẽ có ý thức tốt trong việc học và trau dồi đạo đức.

         Trong thực tế công tác chủ nhiệm lớp là công tác vô cùng khó khăn, phức tạp, vui cũng có mà buồn cũng có. Thành công cũng có mà thất bại cũng có. Bởi lẽ mỗi lớp có đặc thù riêng của lớp đó. Có lớp như thế này, có lớp như thế khác: nào là học sinh cá biệt về học tập, về đạo đức, nào là học sinh có hoàn cảnh khó khăn về kinh tế, con mồ côi, học sinh phải ở trọ để đi học,... Trong số đó, đối tượng học sinh làm cho thầy cô giáo trăn trở nhiều nhất là lười học, quậy phá.Vì vậy, muốn đưa các đối tượng học sinh này vào nề nếp, giúp các em thấy được giá trị đích thực khi các em được đến trường thì không có cách nào tốt hơn là phải có sự phối hợp chặt chẽ giữa GVCN và GVBM.

   1.2 Phạm vi đề tài:

    Lớp 8/5, 8/6, 7/5 năm học 2009-2010.

    Lớp 8/7, 7/3, 7/8 Từ tháng 9/2010 đến tháng 4/2011( năm học 2010-2011)

 2/ Giải quyết vấn đề:

   2.1 Thực trạng vấn đề:

   - Đầu năm học 2009-2010 tôi nhận lớp chủ nhiệm là lớp 8/5 có vị thứ thi đua trong lớp của năm học trước rất thấp(16/16). Ý thức tự quản nhiều em còn kém. Kinh nghiệm BCS lớp còn non, chưa thể hiện tốt vai trò của mình trong việc quản lý lớp học.

  - Đầu năm học 2010-2011 tôi nhận lớp chủ nhiệm là lớp 8/7 có vị thứ thi đua trong lớp của năm học trước cũng tạm được ( 6/16). Ý thức tự quản của lớp này cũng không cao lắm. Nhiều em thường xuyên vi phạm nội quy của nhà trường như vào học trễ do mãi chơi điện tử. Một số em trong giờ học thường hay quậy (phóng máy bay, nói chuyện, nghe nhạc, ăn quà,...)

   - Do trường tuyển học sinh toàn tỉnh nên địa bàn nơi ở phức tạp vì vậy việc phân công đôi bạn học tập, học nhóm, học tổ trong các lớp giảng dạy cũng như chủ nhiệm gặp nhiều khó khăn.

  - Chất lượng học sinh ở một số lớp không đồng đều.Trình độ tiếp thu còn hạn chế ( Lớp 7/8 có 13 em ở các huyện Phú Lộc, Hương Thủy, Thuận An, Lăng Cô và A Lưới ; Lớp 8/7 có 4em ở các huyện Hương Thủy, Phú Vang. Các em này chủ yếu phải ở trọ hoặc phải đi học bằng xe buýt)

   2.2 Các giải pháp:

          Một trong những thành công lớn nhất của công tác chủ nhiệm, công tác giảng dạy là chất lượng học tập của học sinh. Kết quả học tập cuối năm học của một lớp có khả quan hay không phần lớn phụ thuộc nhiều vào sự phối kết hợp giữa GVCN và GVBM đối với lớp đó. Là GVBM, GVCN chúng ta cần phải làm gì để đạt được điều đó. Bản thân tôi qua nhiều năm vừa làm công tác chủ nhiệm vừa làm công tác giảng dạy tôi đã áp dụng một số các biện pháp sau nhằm nâng cao chất lượng học tập của học sinh và thấy rất có hiệu quả:

               ** Với vai trò là một GVCN:

- Đầu năm học tôi đã nắm khá kỹ tình hình của lớp qua GVCN cũ , Tổng phụ trách, Ban CTHS và một số các thầy cô giảng dạy lớp tôi năm học trước.

- Tôi tổ chức một buổi họp Ban cán sự lớp để nắm kỹ hơn về tình hình học tập, học sinh cá biệt , mặt mạnh, mặt yếu của lớp, tình hình thi đua của năm học trước, hoàn cảnh một số em cần có sự quan tâm giúp đỡ của lớp, của GVCN, GVBM.

- Theo lịch của trường tôi đã tổ chức cho học sinh học rất kỹ nội qui của học sinh.

- Trong buổi Đại Hội Chi Đội đầu năm qua theo dõi và nhận xét của học sinh, của GVCN cũ, GVBM tôi đã chọn một học sinh tháo vát, nhanh nhẹn, có trách nhiệm, có uy tín làm Lớp trưởng. Dưới sự điều khiển của Chi Đội Trưởng tôi cho học sinh phân tích kỹ các tồn tại trong năm học trước và đưa ra các biện pháp để khắc phục nhằm nâng cao chất lượng học tập của lớp. Đặc biệt là các qui định về xếp hạnh kiểm.( Dựa vào các qui định của Bộ)

- Lập danh sách Cán sự bộ môn và phân công đôi bạn học tập, phân chỗ ngồi hợp lý (dựa vào sức học, tình hình về mắt, chiều cao,…)

- Trong mỗi buổi học tôi phân công một học sinh ghi lại tình hình học tập của lớp vào sổ Nhật Ký lớp (Danh sách học sinh ghi theo thứ tự của danh sách lớp đã đặt ở trang đầu tiên của sổ). Em nào cũng được ghi để đảm bảo tính công bằng và không gây mất đoàn kết. Cuối tuần tôi thu sổ và đọc để nắm thêm và kịp thời xử lý các biểu hiện khác xảy ra trong lớp mà các sổ khác không ghi. Giờ SGTT tôi dành một thời gian cho học sinh xếp hạnh kiểm tuần và có chữ ký của từng học sinh đồng ý về hạnh kiểm của mình , sau đó các tổ trưởng thông qua trước lớp.

- Tôi thường xuyên kiểm tra Sổ đầu bài và  đã xử lý rất kịp thời các thông tin ghi trong Sổ đầu bài.Tôi đã sử dụng Sổ đầu bài là sổ ghi chép thông tin duy nhất dành cho GVBM. ( Tôi tuyệt đối không yêu cầu GVBM ghi tên học sinh vi phạm vào sổ khác ngoài Sổ đầu bài)

- Tôi đã trực tiếp xử lý những học sinh vi phạm nội qui bị GVBM ghi tên trong Sổ đầu bài. Sau khi tiến hành các biện pháp giáo dục, tôi yêu cầu học sinh viết kiểm điểm có ý kiến của phụ huynh, ghi ý kiến của mình vào kiểm điểm và yêu cầu học sinh vi phạm nộp trực tiếp cho GVBM.

- Tôi đã cung cấp cho GVBM thông tin về cơ cấu tổ chức lớp, nội qui của lớp, sơ đồ lớp, danh sách học sinh cá biệt, học sinh học kém, danh sách các học sinh ở các huyện(lớp tôi có 4 em), danh sách Ban cán sự bộ môn, thông tin phản hồi từ học sinh  qua phiếu phản hồi để giúp GVBM điều chỉnh việc giảng dạy của mình.

- Tôi thường xuyên kiểm tra việc thực hiện các yêu cầu  học tập của  học sinh.

- Tôi cũng đã thường xuyên liên lạc với Ban CTHS để nắm tình hình thực hiện nề nếp, nội qui của học sinh.

  Một điều rất quan trọng là chúng ta phải công bằng, xử phạt nghiêm minh, biểu dương kịp thời, nói là làm, làm là phải chọn lựa phương án tối ưu và có hiệu quả nhất. Chúng ta cần phải biết kết hợp cương- nhu trong mọi tình huống. Cần phải tôn trọng các em. Đối với học sinh cá biệt phải thường xuyên động viên, khuyến khích các em hòa đồng với bạn bè, lễ độ với thầy cô, tích cực tham gia các hoạt động tập thể.

                **Với vai trò là một GVBM:

 - Tôi có trách nhiệm đảm bảo chất lượng dạy học, nề nếp của các lớp do mình phụ trách.

- Đầu năm học tôi đã tìm hiểu về kết quả học tập năm học trứơc của lớp về bộ môn của mình, nắm danh sách các học sinh yếu, học sinh ở các huyện

 ( lớp 7/8 có 13 em ở các huyện Phú Lộc, A Lưới, Lăng Cô, Phú Vang, Hương Thủy,... Lớp 7/3 có 2 em). Sau đó tôi đã đưa ra các yêu cầu cụ thể về bộ môn của mình. Đối với các yêu cầu học tập tôi đã căn cứ vào năng lực học tập của học sinh, bảo đảm vừa sức( không ra nhiều bài tập về nhà, kiểm tra đúng trọng tâm,...)bảo đảm cho học sinh có thời gian học tập các môn học khác. Tôi thường cho điểm thưởng để kích thích các em học tập, đặc biệt là khi tổ chức học nhóm.(Cứ 10 điểm tốt thì học sinh được 10 điểm trong sổ. Khi điểm KTM là điểm lẻ thì cứ 2 điểm tốt các em lại được cộng thêm 0,5 điểm)

- Khi kiểm tra bài cũ, để đảm bảo tính công bằng tôi chọn hai học sinh theo dõi, nhận xét và cho điểm các bạn, cụ thể như sau:

                     Hs1: Kiểm tra vở ghi bài và trả lời phần lý thuyết: 4 điểm.

                     Hs2: Kiểm tra vở soạn bài tập về nhà và bài làm của bạn trên bảng: 6 điểm.Sau đó tôi thống nhất điểm, hỏi lại ý kiến cả lớp rồi ghi vào sổ điểm.

- Trong mỗi tiết học tôi cũng thường xuyên kiểm tra việc thực hiện các quy định học tập của học sinh (Kiểm tra SGK, vở ghi, vở bài tập, vở nháp, đồ dùng học tập,…).Đặc biệt tôi thường xuyên quan tâm đến các học sinh ở huyện.( lớp 7/8 có 13, Lớp 7/3 có 2 học sinh có kết quả học tập chưa cao)

- Tôi cũng đã trực tiếp xử lý những học sinh vi phạm nội qui  trong giờ học của mình. Một số trường hợp cần thông báo với GVCN để có sự phối hợp của GVCN  mời PHHS đến trao đổi, bàn biện pháp kết hợp giáo dục khi thấy cần thiết hoặc có thể phản ánh đến PHHS tình hình học tập của học sinh qua điện thoại.

-  Tôi luôn bảo đảm công bằng, chính xác trong việc đánh giá tiết học, không nhận xét, đánh giá chung chung. Ghi rõ tên những học sinh làm ảnh hưởng đến giờ học, hoặc thường xuyên không thực hiện các yêu cầu của GV vào sổ ghi đầu bài.(Chỉ ghi tên những học sinh thấy cần thiết phải có sự tác động của GVCN)

- Ở một số lớp tôi có đề nghị GVCN hổ trợ khi việc thực hiện nề nếp của học sinh có biểu hiện sa sút, vượt quá khả năng kiểm soát.( Đề nghị kiểm tra sách vở, đồ dùng học tập của học sinh, thông tin đến PHHS về việc xử lý học sinh vi phạm…)

- Đối với những học sinh bị ghi tên vào sổ đầu bài, tôi sẽ chỉ cho học sinh vào học tiết sau, khi học sinh có viết bảng kiểm điểm có chữ ký của GVCN, của phụ huynh.

- Tôi cũng thường nắm bắt các thông tin từ GVCN sau mỗi lần họp phụ huynh và sau mỗi lần học sinh viết phiếu phản hồi  để điều chỉnh việc giảng dạy của mình.

- Tôi cũng đã phản ánh thường xuyên , kịp thời với GVCN về tình hình học tập của lớp, kết quả học tập của những học sinh cá biệt. Đề nghị đổi chỗ một số học sinh,…

        2.3  Kết quả:

                Qua nhiều năm áp dụng các biện pháp trên, các lớp tôi chủ nhiệm và giảng dạy đều đạt được các kết quả rất khả quan. Vị thứ thi đua cuối năm đã tăng lên rất nhiều so với năm học trước. Số học sinh giỏi của lớp chủ nhiệm và giảng dạy cũng đã tăng lên nhờ vào điểm bộ môn của tôi. Các em rất phấn khởi và đặc biệt là rất thích học Toán ( thông tin trên phiếu phản hồi), rất thích tham gia các hoạt động.

    Cụ thể:

     - Năm học 2009-2010:

* lớp 8/5 có 21 em đạt danh hiệu HSG chiếm tỉ lệ 56,4%  ; 17em đạt danh hiệu HSTT chiếm tỉ lệ 43,6%.

     Môn Toán có 24 em Giỏi đạt tỉ lệ 24% ; 12 em Khá đạt 30,8%

* lớp 8/6 có 24 em Giỏi đạt tỉ lệ 61,5%  ;  14 em Khá đạt tỉ lệ 35,9%   

     - Năm học 2010-2011:

 Học kỳ I:

 * Lớp 8/7 có 18 em đạt danh hiệu HSG chiếm tỉ lệ 46,2% ; 21 em đạt danh hiệu HSTT chiếm tỉ lệ 53,8%.

     Môn Toán: có 17 em Giỏi đạt tỉ lệ 43,6% ; 19 em Khá đạt tỉ lệ 48,7%

 * Lớp 7/3 có 19 em Giỏi đạt tỉ lệ 52,8% ; 12 em Khá đạt tỉ lệ 33,3%

 * Lớp 7/8 có 21em Giỏi đạt tỉ lệ 46,7% ; 14 em Khá đạt tỉ lệ 31,1%

Riêng hai lớp 7/3 và 7/8 có một số em còn yếu( các học sinh ở huyện và A Lưới) nên trong học kỳ II tôi đã tăng cường việc gọi học sinh phát biểu và cho lên bảng nhiều lần nên các em học đã đạt một số điểm rất khả quan. Một số em ở huyện như Nhật Minh, Ngọc Hiệp, Hoàng Nhật, Diễm Hương, Trường Sơn, Đăng Ninh lớp 7/8 và các emGia Long, Hải Nghi, Thảo Nguyên, Ngọc Trân, Trà My lớp 7/5 đã đạt được một số điểm khá cao trong học kỳII vì vậy chắc chắn tỉ lệ của hai lớp này sẽ được nâng lên vào cuối năm học.

3/ Kết luận:

     Qua trải nghiệm thực tế tôi nhận thấy rằng nếu GVCN và GVBM có sự kết hợp chặt chẽ thì việc nâng cao chất lượng học tập cho học sinh sẽ rất dễ dàng. Điều quan trọng nhất là khi chúng ta nói thì chúng ta phải làm. Với học sinh chúng ta đừng nên nói suông. Vì như vậy các em sẽ coi thường và sẽ thường xuyên vi phạm.Trước học sinh bao giờ chúng ta cũng phải là người có uy tín, có năng lực thực sự, dám nghĩ, dám làm và luôn phải chứng tỏ cho học sinh thấy là chúng ta làm vì muốn cho các em tốt hơn, đừng để các em có ác cảm và có thái độ không tốt sẽ rất nguy hiểm.

     SKKN này tôi đã áp dụng rất nhiều năm và rất có hiệu quả. Đối với các thầy cô khác có thể sẽ có những cách làm tốt hơn nhưng theo tôi vì mỗi lớp có một đặc thù riêng nên cách làm nào cũng tốt, miễn sao chất lượng của các em được nâng lên là được.

*/Kiến nghị: Hiện nay trường chúng ta có nhiều giáo viên tuổi đã lớn nhưng do yêu cầu của nhà trường nên vẫn phải làm công tác chủ nhiệm, một công việc rất dễ làm cho họ cảm thấy mệt mõi. Học sinh bây giờ lại rất dễ bị bạn bè lôi kéo và tính tự quản không cao. Giáo viên trẻ mới về trường thì hầu như chưa có kinh nghiệm chủ nhiệm nên thường bị lúng túng khi có sự việc phức tạp của lớp xảy ra. Vì vậy tôi  đề nghị nhà trường cần tổ chức các buổi giao lưu giữa các GVCN lớn tuổi và các GVCN trẻ để các GV trẻ có cơ hội học hỏi và có thêm kinh nghiệm về công tác chủ nhiệm.  

       

                                                                                                                             Huế, ngày 30/4/2011

                                                                                                                                     Người viết

 

 

                                                                                                                                   Trần Thị Thắng 

 

                     TÀI LIỆU THAM KHẢO

  1. Điều lệ trường trung học – Bộ GD&ĐT
  2. Chỉ thị số 3399/2009/CT- BGD&ĐT ngày 16 tháng 8 năm 2010 của Bộ trưởng Bộ GD&ĐT về nhiệm vụ trọng tâm của toàn ngành học, bậc học trong năm học 2010-2011
  3. Thông tư 12/2009 của Bộ GD&ĐT quy định về tiêu chuẩn đánh giá chất lượng giáo dục các trường THCS.
  4. Chỉ thị số 33/2006/TTg ngày 8/9/2006 của Thủ tướng chính phủ về chống tiêu cực và bệnh thành tích trong giáo dục.

 

 

 

      DANH MỤC CHỮ CÁI VIẾT TẮT

     -    CTHS :  công tác học sinh

-          SKKN :   sáng kiến kinh nghiệm

-          GVCN:    giáo viên chủ nhiệm

-          GVBM:   giáo viên bộ môn

-          HSTT:     học sinh tiên tiến

-          HSG:       học sinh giỏi

-          BCS :      ban cán sự

-          PHHS :  phụ huynh học sinh