[SKKN] Hướng dẫn học sinh học tốt địa lí địa phương ở trưởng THCS (Tỉnh Thừa Thiên Huế)  - (19/12/2011)
   SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
             Đề tài:
HƯỚNG DẪN HỌC SINH HỌC TỐT ĐỊA LÍ ĐỊA PHƯƠNG Ở TRƯỜNG THCS
(Tỉnh Thừa Thiên - Huế)
---------*---------
 
      I.  ĐẶT VẤN ĐỀ:
         1. Lý do viết đề tài:
             a. Cơ sở lý luận:
           Việc đổi mới quá trình giáo dục, trong đó có đổi mới phương pháp dạy học địa lí ở trường trung học cơ sở đã được khẳng định ở những văn bản của Đảng và Nhà nước. Nghị quyết TW 2 nêu rõ: “Đổi mới mạnh mẽ phương pháp giáo dục và đào tạo, khắc phục lối truyền thụ một chiều, rèn luyện nếp tư duy sáng tạo của người học.Từng bước áp dụng các phương pháp tiên tiến và phương tiện hiện đại vào trong quá trình dạy học, bảo đảm điều kiện và thời gian tự học, tự nghiên cứu cho học sinh”. 
           Điều 27, luật giáo dục quy định mục tiêu của giáo dục phổ thông là “Giúp học sinh phát triển toàn diện về đạo đức trí tuệ, thể chất, thẩm mĩ và các kỹ năng cơ bản; phát triển năng lực cá nhân, tính năng động và sáng tạo, hình thành nhân cách con người Việt Nam Xã hội chủ nghĩa...”
           Chiến lược phát triển giáo dục 2001-2010 ghi rõ “Đổi mới và hiện đại hóa phương pháp giáo dục. Chuyển từ việc truyền thụ tri thức thụ động, thầy giảng trò ghi sang hướng người học chủ động tư duy trong quá trình tiếp cận tri thức, dạy cho người học phương pháp tự học, tự thu nhận thông tin một cách có hệ thống...”
            Nhà trường và tổ chuyên môn cũng đặt ra từ đầu năm học yêu cầu động viên mỗi giáo viên viết sáng kiến kinh nghiệm.
            Từ những yêu cầu thực tiễn trên. Mục tiêu của môn địa lí hiện nay đặt nặng vào việc hình thành và rèn luyện cho học sinh các năng lực cần thiết.Với đề tài “Giúp học sinh học tốt địa lí địa phương ở trường trung học cơ sở “nhằm một phần thực hiện theo các mục tiêu trên.
     b. Cơ sở thực tiễn:  
          - Về địa lí địa phương do Bộ không có điều kiện và khả năng biên soạn tài liệu địa lí địa phương của tất cả các tỉnh và thành phố trên đất nước ta, sách giáo khoa chỉ đưa ra một dàn ý về các nội dung địa lí địa phương mà chương trình trung học cơ sở yêu cầu.
          - Việc học tập đầy đủ, chi tiết toàn bộ nội dung đã nêu trong sách giáo khoa là không dễ thực hiện.
          - Giáo viên cũng gặp lúng túng khi lựa chọn nội dung cũng như phương pháp cho phù hợp. Sắp xếp làm sao cho có hệ thống để đảm bảo ba phần chính cần truyền đạt là: Điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên, dân cư và lao động, kinh tế của tỉnh Thừa Thiên - Huế.
          - Một trong những khó khăn lớn nhất của việc giảng dạy địa lí địa phương là vấn đề biên soạn theo từng bài ứng với các tiết mà phân phối chương trình của Bộ đã ghi, cụ thể ở tiết 47, 48, 49 và 50 địa lí 9.
    2. Phạm vi đề tài:
       Đề tài nghiên cứu là phạm vi thuộc tỉnh Thừa Thiên - Huế với ba nội dung chính:
          - Điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên của tỉnh Thừa Thiên - Huế.
          - Dân cư và lao động của tỉnh Thừa Thiên - Huế.
          - Kinh tế của tỉnh Thừa Thiên - Huế.
        Khả năng áp dụng của đề tài dành cho học sinh khối 8 và khối 9 bặc trung học cơ sở.
II. Giải quyết các vấn đề: (nội dung sáng kiến kinh nghiệm)
            1. Thực trạng vấn đề:
 - Theo thăm dò từ học sinh khối 9. Các em cho biết: “Trong môn địa lí 9 không đi sâu vào một tỉnh (thành phố) mà chỉ nói chung một vùng, miền nên không hiểu biết kĩ về chính nơi mình đang sống. Các em cũng gặp khó khăn khi cần xem bài trước. Phụ huynh cũng khó giúp khi các em đặt vấn đề.
 - Học sinh chỉ quan tâm và học những gì có trong sách, những gì tiếp thu được trên lớp, ít tự tìm hiểu về địa phương mình.
 - Bộ môn địa lí chưa thật sự thu hút phần lớn học sinh.
 - Học sinh còn xem nhẹ chương trình địa lí địa phương.
 - Trong tỉnh mình nhưng không thể đến hết tất cả các nơi để tham quan, khảo sát nên không nắm kĩ các kiến thức về địa phương.
 - Tư liệu nằm rải rác, khó chọn lọc.
 - Các em ít được đi tìm hiểu thực tế về địa phương.Việc làm này khó tổ chức và khá tốn kém.
                Tất cả những lí do trên làm cho học sinh tiếp thu về địa lí địa     phương còn hạn chế, ít say mê. Đó là lí do tôi chọn đề tài này để giúp các em giải quyết một phần vướng mắc.
                  - Sở dĩ có những thực trạng trên là do các em ít được đi thực tế đến các nơi của địa phương. Khi tìm tài liệu đòi hỏi mất thời gian.
                  - Cụm từ “Địa lí địa phương” đối với nhiều học sinh còn rất mơ hồ nên không biết mình phải tìm hiểu điều gì.
                  - Chủ quan không học địa lí địa phương vì nghĩ mình đã biết rồi.
                  - Học sinh chỉ quan tâm đến kiến thức trong sách không đầu tư tìm hiểu thêm.
                Bên cạnh những thực trạng trên việc đổi mới phương pháp dạy học địa lí diễn ra vẫn còn chậm, chưa đáp ứng được mục tiêu giáo dục và sự say mê học địa lí của học sinh.
                  - Đa số giáo viên vẫn chú trọng truyền thụ kiến thức theo kiểu thuyết trình xen kẽ hỏi đáp, nặng nề thông báo, giảng giải kiến thức, nhẹ về phát huy tính tích cực và phát triển tư duy. Từ đó kéo theo việc không mặn mà khi học địa lí địa phương.
                  - Cơ sở vật chất phục vụ dạy học còn thiếu và chưa đồng bộ.
                  - Nhìn chung, giờ địa lí chưa mang lại nhiều hứng thú cho học sinh ở trường trung học cơ sở.
                Vì vậy để học sinh yêu thích môn địa lí nói chung và địa lí địa phương nói riêng, cả trò lẫn thầy phải có những suy nghĩ, giải pháp đúng đắn để thực hiện thành công.  
         2. Các giải pháp: 
               Như đã nêu ở trên về địa lí địa phương do Bộ không có điều kiện và khả năng biên soạn tài liệu địa lí địa phương của tất cả các tỉnh và thành phố trên cả nước. Sách giáo khoa chỉ đưa ra dàn ý về các nội dung địa lí địa phương do đó giáo viên cần phải tìm kiếm thông tin, sưu tầm tranh ảnh, số liệu theo các dàn ý sao cho hợp lí mà sách giáo khoa yêu cầu.Việc này thật sự không dễ chút nào vì cần khá nhiều thời gian và công sức. Giáo viên cũng tổ chức chia nhóm để học sinh về nhà tìm kiếm thông tin, sưu tầm những tư liệu cần thiết mà giáo viên đã soạn sẵn. Cần báo cho học sinh trước nhiều tuần để các em có thời giờ thong thả để tìm kiếm tránh gây ảnh hưởng đến quá trình học tập đối với các môn học khác. Mỗi nhóm chỉ đảm nhận phần nội dung ngắn gọn để khi đến lớp các em có thời gian trình bày, thảo luận trước lớp. Tạo cho các em có kĩ năng tìm kiếm, xử lý thông tin, kĩ năng lắng nghe và trình bày trước đám đông... Nếu giáo viên chỉ truyền đạt thông tin sẽ làm cho các em thụ động, không hứng thú với tiết học địa lí địa phương. Khi các em trình bày các em sẽ thấy rõ thành quả của nhóm là đáng trân trọng. Giáo viên cần động viên, khen thưởng kịp thời để khơi dậy lòng say mê, tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho các em.
                Cũng giống như các tiết học khác. Các tiết học địa lí địa phương cũng cần áp dụng các phương pháp tiên tiến như:
                    - Phương pháp nghiên cứu: Là phương pháp trong đó căn cứ vào vấn đề được đặt ra và dựa vào cơ sở các giả thuyết, học sinh tiến hành thu thập thông tin từ nhiều nguồn bằng nhiều cách khác nhau. Sau đó, tiến hành phân tích, tổng hợp, so sánh, rút ra kết lluận nêu các giải pháp hoặc đề xuất kiến nghị.
                   - Phương pháp thảo luận: Là phương pháp mạn đàm, trao đổi với nhau. Học sinh giữ vai trò tích cực, chủ động tham gia thảo luận, giáo viên giữ vai trò nêu vấn đề, gợi ý và tổng kết. Qua phương pháp này có thể hiểu được thái độ của học sinh.
                    - Phương pháp tranh luận: Khi có vấn đề có thể xuất hiện hai hoặc nhiều cách giải quyết khác nhau. Giáo viên thường đặt câu hỏi như “Tại sao em chọn cách này mà không chọn cách khác?”
                    - Phương pháp động não: Đây là phương pháp người học được kích thích suy nghĩ. Có thể thực hiện vào đầu tiết học, hoặc bắt đầu một vấn đề, một nội dung giữa bài học.
                    - Phương pháp báo cáo: Học sinh dưới sự hướng dẫn của giáo viên, thu thập, phân tích, tổng hợp số liệu, tư liệu... trình bày thành báo cáo, sau đó thuyết trình trước nhóm hay toàn lớp.
               Sau đây là một vài ví dụ về các biện pháp đã tiến hành để giải quyết vấn đề đã nêu trên
- Phần địa lí địa phương.
                    - Trong bài 41 vị trí, điều kiện tự nhiên (tỉnh Thừa Thiên - Huế)
           Giáo viên dùng phương pháp động não đặt câu hỏi: Em hãy cho biết ý nghĩa của vị tri địa lí tỉnh Thừa Thiên - Huế đối với việc phát triển Kinh tế- Xã hội.
           Sau khi các em đã xem bản đồ Thừa Thiên - Huế. Yêu cầu cả lớp động não. Ghi ý kiến của mình vào giấy nhỏ ghim lên bảng, hoặc từng học sinh trình bày ngắn gọn ý kiến của mình. Sau khi không còn ý kiến nữa. Giáo viên tổng hợp ý kiến lại cùng với học sinh chọn và đánh dấu vào ý kiến cho là hợp lí nhất. Giáo viên chốt lại: Với vị trí như vậy Thừa Thiên - Huế là một điểm nối liền hai miền Bắc Nam của đất nước. Vị trí này tạo điều kiện dễ dàng mở rộng đường sắt Bắc Nam và đường quốc lộ I chạy theo chiều dài lãnh thổ nên có tầm quan trọng đặc biệt trong chiến lược phát triển Kinh tế-Xã hội của tỉnh nhất là về giao thông vận tải. Tuy nhiên, do hẹp bề ngang, một bên núi cao, một bên biển rộng nên hay có lũ lớn vào mùa mưa bão. Hướng địa hình gần như thẳng góc với hướng gió mùa nên mùa hè có gió tây nam khô nóng, mùa đông có gió đông bắc lạnh mưa nhiều gây khó khăn không nhỏ cho sản xuất nông nghiệp.
          Trong phần Thủy văn (tỉnh Thừa Thiên - Huế) giáo viên dùng phương pháp thảo luận. Sau khi cho học sinh xem bản đồ sông ngòi Thừa Thiên - Huế. Giáo viên đặt câu hỏi để lớp thảo luận. Hãy nêu đặc điểm chung và vai trò của sông ngòi Thừa Thiên - Huế đối với đời sống và sản xuất ?
            Giáo viên chia lớp thành 4 nhóm. Mỗi nhóm được giao một vấn đề cụ thể. Thời gian cho mỗi nhóm là 3 phút. Học sinh trong nhóm mạn đàm, trao đổi để làm sáng tỏ. Sau khi thảo luận nhóm xong, mỗi nhóm cử đại diện của mình lên trình bày. Các nhóm khác lắng nghe, bổ sung. Giáo viên nhận xét:
              - Đặc điểm chung: Phần lớn bắt nguồn từ đông Trường Sơn, hướng tây-đông, độ dốc lớn. Ở hạ lưu chảy quanh co, độ dốc thấp, cửa sông hẹp. Lưu vực các sông không lớn, lưu lượng các sông thay đổi và chênh lệch lớn theo mùa phụ thuộc vào chế độ mưa, hàm lượng phù sa thấp.
              - Vai trò của sông: Cung cấp phù sa cho các đồng bằng ven sông nhất là sông Hương và sông Bồ. Cung cấp lượng nước cần thiết cho sinh hoạt và sản xuất. Nguồn khai thác thủy sản nước. Mạng lưới giao thông đường thủy rất thuận lợi.
            Trong bài 42 địa lí địa phương “Tình hình phát triển văn hóa, giáo dục, y tế”
            Giáo viên đã dùng phương pháp nghiên cứu đặt vấn đề: Thừa Thiên - Huế có các loại hình văn hóa gì nổi tiếng thu hút nhiều du khách trong nước và quốc tế?
             Sau khi giáo viên cho học sinh xem các tranh ảnh liên quan đến hoạt động văn hóa của tỉnh nhà. Giáo viên tổ chức cho cá nhân hoặc nhóm nghiên cứu qua hình thức thu nhập thông tin, quan sát, phỏng vấn, thu thập tư liệu, tranh ảnh, sách báo, hiện vật... Tiếp đến học sinh sẽ xử lí thông tin thu thập được mà học sinh cho là đúng để nộp lại sản phẩm hoặc trình bày trước lớp, nhóm mà mình đã nghiên cứu. Giáo viên chốt lại:
             Tỉnh Thừa Thiên - Huế có thành phố Huế đã từng là kinh đô lịch sử của Việt Nam trong một thời gian dài. Huế còn có sông Hương, núi Ngự phong cảnh thiên nhiên đẹp và hệ thống thành quách, cung điện triều Nguyễn hoành tráng, mĩ lệ đã được UNESCO công nhận là di sản văn hóa thế giới. Bên cạnh đó, huế cìn là trung tâm phật giáo với hơn 100 ngôi chùa cổ kính, những di tích văn hóa và các loại hình văn hóa nghệ thuật đậm đà bản sắc dân tộc như chùa Linh Mụ, điện Hòn Chén, nhã nhạc cung đình... Thành phố Huế có những bãi tắm đẹp như Thuận An, Lăng Cô, Cảnh Dương và rừng quốc gia Bạch Mã rất thuận lợi cho việc du lịch sinh thái... Đó là tiềm năng to lớn để Thừa Thiên – Huế trở thành trung tâm văn hóa du lịch của cả nước.
            Trong bài 43 địa lí địa phương phần kinh tế. Giáo viên sử dụng phương pháp báo cáo. Sau khi cho các em biết đặc điểm chung của hinh tế Thừa Thiên - Huế. Giáo viên nêu câu hỏi: “Hãy cho biết đặc điểm ngành công nghiệp Thừa Thiên - Huế là gì? Kể tên các ngành công nghiệp chính”.
             Học sinh sẽ thu thập thông tin, xác định nguồn thông tin cần thu thập thực tế tại địa phương, tại nơi ở, tại trường đang học. Chọn lọc những thông tin cớ liên quan đến chủ đề cần thu thập để báo cáo trước nhóm, tổ, kết luận, đề xuất ý kiến...Sau khi nghe học sinh viết và đọc báo cáo, giáo viên tóm tắt:
              Đặc điểm công nghiệp Thừa Thiên - Huế có những phát triển đáng kể trong những năm qua với mức tăng trưởng bình quân cao. Cơ cấu và phân bố đã có những chuyển biến tốt để khai thác các thế mạnh kinh tế của địa phương. Đã góp phần đến quá trình chuyển đổi cơ cấu kinh tế và lao động của tỉnh.
              Có 8 ngành công nghiệp chính: khai khoáng, cơ khí sửa chữa, hóa chất, chế biến lấm sản, vật liệu xây dựng, sản xuất thực phẩm, dệt, tiểu thủ công mỹ nghệ.
              Trên là những giải pháp tôi đã chọn khi dạy các tiết địa lí địa phương ở khối 9 của trường tôi đang công tác. Chắc chắn muốn giúp học sinh học tốt địa lí địa phương cũng còn các biện pháp khác nữa cùng phối hợp và ý thức say mê học tập của học sinh nữa.
     3. Kết quả:
             Chúng ta đang hết sức quan tâm đổi mới phương pháp dạy học và đổi mới kiểm tra đánh giá tạo động lực để giúp học sinh học tập tốt, có nhiều chuyển biến tích cức trong việc tiếp thu bài hoc, có khả năng vận dụng và kĩ năng thực hành. Đặc biệt là quan tam đến khả năng độc lập tư duy, sáng tạo của học sinh, khả năng vận dụng kiến thức đã học vào thực tiễn. Đề tài này cũng mong muốn học sinh sẽ đạt được những kết quả như vậy. Qua việc áp dụng các giải pháp trên khi dạy các tiết học địa lí địa phương ở cuối chương trình bản thân đã thấy có những chuyển biến tích cực, tư duy sáng tạo, có khả năng tự học, tự nghiên cứu. Qua thăm dò, các em đã có các ý kiến khi học địa lí địa phương(tỉnh Thừa Thiên - Huế) như sau:
                      - Hiểu biết thêm về văn hóa, phong tục tập quán, những nét sinh hoạt truyền thống đặc sắc.      
                      - Củng cố và bổ sung vào kiến thức còn thiếu của mình.
                      - Khi nghiên cứu, thảo luận, báo cáo, tranh luận tạo lí thú trong học tập.
                      - Các kiến thức cơ bản dễ hiểu, dễ học.                       
                      - Có thể vận dụng điều đã học vào lao động sản xuất, thực tiễn sau này.
                      - Yêu quê hương đất nước, yêu địa phương mình nhiều hơn.
                      - Biết được các thế mạnh về điều kiện tự nhiên, về kinh tế, về xã hội của nước nhà.
                      - Có khả năng nhận biết một số hiện tượng địa lí nơi mình sinh sống.
                      - Có niềm tin vào sự phát triển ở địa phương, nâng cao ý thức xây dựng, bảo vệ quê hương.
                      - Biết được thực trạng của tỉnh nhà để định hướng cho nghề nghiệp sau này.
           Trên là những ý kiến của các học sinh ở lớp 91, 92, 93, 94 mà tôi đã dạy. Kết quả cụ thể khi khảo sát ở các lớp đó như sau:
                      - Lớp 91: 100% học sinh ham mê học địa lí địa phương.    
                           - Lớp 92: 100% học sinh ham mê học địa lí địa phương.    
                           - Lớp 93: 100% học sinh ham mê học địa lí địa phương.
                           - Lớp 94: 100% học sinh ham mê học địa lí địa phương.
    
       III. Kết luận:
 
                Để học sinh yêu thích các tiết học địa lí địa phương và xua tan ý nghĩ xem nhẹ bộ môn địa lí bản thân đã cố gắng tăng cường sử dụng các phương pháp dạy học tiên tiến và đưa ra các giải pháp hợp lí nhằm kích thích sự say mê học tập như các hoạt động nghiên cứu, hoạt động thảo luận, hoạt động tranh luận, hoạt động động não, hoạt động báo cáo. Bên cạnh đó cũng cần phối hợi các phương pháp khác như đàm thoại gợi nhớ đưa ra các câu hỏi hợp lí đúng mục đích, rõ ràng tránh những câu hỏi đặt ra tùy tiện, không nhắm vào mục đích cụ thể nào; hoặc phương pháp giải quyết vấn đề, phối hợp cùng học sinh để giải quyết vấn đề đi đến những kết luận cần thiết...
               
                Đề tài này với mong muốn được áp dụng đối với các học sinh bậc trung học cơ sở ở khối 8 và khối 9.  
            
             Đất nước đang bước vào giai đoạn công nghiệp hóa, hiện đại hóa với mục tiêu đến năm 2020 Việt Nam cơ bản trỏe thành nước công nghiệp, hội nhập với cộng đồng quốc tế. Việc học tốt địa lí địa phương của tỉnh nhà nhằm hiểu rõ thực tế của địa phương để có ý thức tham gia,
 
 
     xây dựng địa phương, quê hương ngày một tưới đẹp hơn khi các em trưởng thành.
                          Rất mong sự đóng góp ý kiến của các thầy cô.
 
 
                                                             Huế, ngày 20 tháng 4 năm 2011
 
                                                                                                                                        Người viết
 
 
           
                                                                                              
                                                                                                                                Dương Vĩnh Dũng